TÍN NGƯỠNG QUÁN THẾ ÂM THEO MẬT TÔNG
TÍN NGƯỠNG QUÁN THẾ ÂM THEO MẬT TÔNG
17/03/2019 10:29 | : 6485
Quán Âm, tiếng Phạn: Avalokiteśvara, tức là Quán Thế Âm, còn gọi là Quán Tự Tại, là vị Bồ tát được hai tông Hiển – Mật sùng bái nhất. Thông thường, người ta cho rằng: Tín ngưỡng Quan Thế Âm theo hoằng truyền của kinh Pháp Hoa được lưu truyền đến ngày nay.
Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh quan trọng của Đại thừa Phật giáo, xuất hiện 6 bản dịch, trong đó có 3 bản được lưu truyền đến nay. Bản dịch sớm nhất là Chánh Pháp Hoa kinh của ngài Trúc Pháp Hộ, dịch vào năm 286 (niên hiệu Thái Khang), gồm 10 quyển, 27 phẩm. Bản thứ hai là Diệu Pháp Liên Hoa kinh của ngài Cưu Ma La Thập, dịch vào năm 406 (niên hiệu Hoằng Thỉ, năm thứ 8), gồm 7 quyển (có bản 8 quyển), 28 phẩm. Bản thứ 3 là Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa kinh, do hai ngài Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa cùng dịch vào đời Tùy, Nhân Thọ nguyên niên (Tây lịch năm 601), gồm 7 quyển, 27 phẩm. Trong ba bản dịch này, bản dịch của ngài La Thập được lưu hành rộng rãi nhất.
Quang Thế Âm Phổ Môn phẩm, là phẩm thứ 23, quyển thứ 10 trong Chánh Pháp Hoa kinh, căn cứ Xuất Tam Tạng ký tập quyển 4, phẩm này dùng bản lẻ của kinh Quang Thế Âm để lưu hành.[①], khi bản dịch của ngài La Thập chưa xuất hiện, kinh này được người đời truyền tụng.
Trong Tấn Thư, quyển 115, Phù Tần Tái Ký ghi lại như sau: “Hiếu Vũ Đế, Thái Nguyên năm thứ 11 (387 TL), Từ Nghĩa vì Mạc Dung Vĩnh đã cùng với tất cả tù binh tụng kinh Quán Thế Âm mà được thoát nạn[②]”. Sau khi kinh Diệu Pháp Liên Hoa của ngài La Thập dịch xong, trong đó phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ Môn, thứ 25, cũng dùng bản lẻ là kinh Quán Thế Âm, nhanh chóng được lưu hành trong xã hội[③], nay còn được bảo tồn trong sách Đôn Hoàng, hơn 100 bản chép tay, các số hiệu: B.6241,S.0217, S.1118, P.3132. Điều này cho thấy, kinh này được truyền bá rộng rãi, đặc biệt là phát hiện bản Chú giải kinh Quán Thế Âm, với các số hiệu B.6280, P.3904[④], điều này đã giúp cho chúng ta biết rõ nguyên nhân của sự truyền bá và thịnh hành của tín ngưỡng Quán Thế Âm.
Hiện nay còn tồn tại ba bản dịch kinh Pháp Hoa; phẩm Phổ Môn trong ba bản dịch này tương đối giống nhau; riêng Phổ Môn phẩm kệ của ngài Xà Na Quật Đa dịch vào thời Bắc Chu, đến thời Tùy có thêm phần phụ, sau đó các soạn giả đều dùng bản dịch của ngài La Thập. Ngoài ra, bản dịch Dược Vương Bồ Tát Chú của ngài Huyền Trang cũng được lưu hành.
Trong phẩm Phổ Môn thể hiện rõ tín ngưỡng Quán Âm của Hiển giáo, nội dung chủ yếu về ba phương diện[⑤], trong đó Phổ Môn là cứu tế, tức là rộng độ cứu khổ bạt nguy. Phổ Môn, tiếng Phạn là Samantamukha, vốn là một trong các danh hiệu của ngài Quán Âm, biểu thị pháp môn phổ biến rộng rãi, mở lòng từ cứu độ chúng sanh, trong sách Đôn Hoàng số hiệu B.6211, lời đầu tiên nói rằng:
Bấy giờ, Bồ tát Vô Tận Ý từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai áo bên phải, chắp tay hướng về đức Phật bạch rằng: Bạch Thế Tôn! Bồ tát Quán Thế Âm do nhân duyên gì mà có tên là Quán Thế Âm? Đức Phật bảo Bồ tát Vô Tận Ý rằng: “ Này Thiện nam tử, nếu có vô lượng trăm nghìn vạn ức chúng sanh, chịu các khổ não, nghe danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm, nhất tâm niệm danh hiệu Ngài, Bồ tát Quán Thế Âm nghe được âm thinh đó, cứu độ cho tất cả trừ hết các khổ ách.
Thứ nhất, giải thoát ở đây bên trong hiển nhiên bao hàm vận dụng chú ngữ, tức là ngài Quán Âm nghe tiếng kêu của chúng sanh liền đến cứu khổ, điều đó chứng tỏ Ngài luôn thể hiện tâm đại từ đại bi. Ngài Quán Âm vốn là đệ tử của Phật, là vị Bồ tát dùng lực bất khả tư nghì để hoàn thành lý tưởng cứu độ chúng sanh, điều này đã có sự thu hút rất mạnh đối với tầng lớp bình dân.
Trong Quán Thế Âm Linh Nghiệm ký nói: “Ở phương Bắc có một vị đạo nhân, đang du hành trong núi Thọ Sơn, bỗng nhiên có hai kẻ cướp xuất hiện, trói buộc vị đó vào gốc cây muốn sát hại, tay cầm y vật, vị đạo nhân này nhất tâm lớn tiếng niệm danh hiệu Quán Thế Âm, kẻ cướp đó tự nhiên không thấy nữa, do trong lòng lo sợ mà bỏ đi[⑥]”. Đây là một trong những câu chuyện điển hình biểu thị sự linh cảm, từ đó danh hiệu “Quán Thế Âm tầm thinh cứu khổ cứu nạn” bắt đầu xuất hiện.
Thứ hai, cứu thế là phương tiện. Trong Phổ Môn phẩm, việc trì danh Ngài có thể cứu được bảy nạn, như: Nước, lửa, la sát, đao trượng, ác quỷ, xiềng xích, oán tặc (nếu nói bát nạn là thêm “gió”). Niệm danh hiệu Quán Thế Âm làm cho xa lìa ba độc: Tham, sân, si. Lễ bái Quán Âm sẽ viên mãn hai điều nguyện là: cầu con trai thì được con trai, cầu con gái thì được con gái; trong cuộc sống hiện tại nếu gặp các khổ nạn thì tâm quy hướng về Bồ tát Quán Âm mà xưng niệm danh hiệu của Ngài, tất cả khổ nạn đều được giải thoát.
Thứ ba là hiện thân. Trong phẩm Phổ Môn liệt kê Bồ tát Quán Âm có 33 hóa thân, mỗi mỗi thân đều vì chúng sanh thuyết pháp, các thân ấy là: Phật, Bích chi Phật, Thinh văn, Phạm vương, Đế thích, Tự tại thiên, Đại tự tại thiên, Thiên đại tướng quân, Tỳ- sa-môn, Tiểu vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà- la- môn, Tỳ- kheo, Tỳ- kheo- ni, Ưu- bà- tắc, Ưu- bà- di, Trưởng giả phụ nữ, Cư sĩ phụ nữ, Đồng nam, Đồng nữ, Thiên thân, Long thân, Dạ xoa thân, Càn thát bà thân, A- tu la- thân, Ca lầu la thân, Khẩn na la thân, Ma hầu la thân, Chấp kim cang thần thân…, trong đây là đại diện các nhân vật thuộc chúng sanh hữu tình, thậm chí còn có Bích Chi Phật và Phật. Quán Âm thị hiện thủ pháp, hơn thế nữa là công năng cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sanh.
Đời Đường, ngài Trí Thông, Già Phạm Đạt Ma dịch kinh Thiên Thủ. Sau đời Đường thịnh hành có các ngài Kim Cang Trí, Bất Không …dịch nghi quỹ Kinh Thiên Thủ. Tín ngưỡng Quán Âm trong Mật giáo dần dần được lưu hành, thậm chí cùng với tín ngưỡng Quán Âm của Hiển giáo không trái nghịch nhau. Do Mật giáo có nguồn gốc từ Phật giáo Đại thừa mà phát triển lên, nên tín ngưỡng Quán Âm trong bài kệ của phẩm Phổ Môn ở trước có mối quan hệ, tiếp tục tinh thần cứu độ thế gian của ngài Quán Âm. Đó là mục đích của chương này, ngoài mối quan hệ truyền thừa, còn giới thiệu cụ thể một số tín ngưỡng Quán Âm của Mật giáo. (Còn tiếp)
Lăng Già Nguyệt
[①] Tăng Hựu, Xuất Tam Tạng Ký Tập, Nxb Trung Hoa Thư Cục, năm 1995, trg.128.
[②] Căn cứ Xuất Tam Tạng Ký Tập, quyển 1 ghi: Quán Thế Âm kinh quyển 1, xuất xứ từ Tân Pháp Hoa. Việc này phát sinh vào năm 387, bấy giờ bản dịch kinh Pháp Hoa của ngài La Thập dịch chưa xuất hiện, nên Từ Nghĩa tụng kinh Quang Thế Âm, chứ không phải là kinh Quán Thế Âm.
[③] Trong Pháp Hoa Truyện Ký, quyển 1, nói: Chỉ có phẩm Phổ Môn của ngài La Thập, tại sao Ngài ở Tây hải đi một mình? Đàm Ma La Sám, mang giáo pháp đến đây, là người Bà La Môn ở Trung Ấn, cũng gọi là Bồ tát Ba Lặc, có chí nguyện hoằng hóa lợi sinh, du hóa ở Thông Lĩnh, đến Hà Tây, vua Thủ Cừ Mông Tốn ở Hà Tây (triều đại Bắc Lương), qui y chánh pháp, trong người có bệnh tật, tự mình hướng về Bồ tát bạch rằng: “Bồ tát Quán Âm! Ngài có duyên với nơi này, nên người tụng niệm, bệnh khổ tiêu trừ, nhân đây mà có một phẩm được truyền riêng, được lưu thông bên ngoài.
Căn cứ sự việc này nên kinh Quán Thế Âm, khi Vua Thủ Cừ Mông Tốn tại vị ( năm 401- 432), điều đó khẳng định kinh này được lưu truyền đến Kinh châu. Liên quan với KinhQuang Thế Âm và Kinh Quán Thế Âm được truyền bá vào thời Nam Bắc triều đời Ngụy Tấn, tác giả Châu Nhất Lương trong tác phẩm Ngụy Tấn Nam Bắc triều Sử Trát Ký, ông có tường thuật vấn đề này. (xem thêm Châu Nhất Lương, Ngụy Tấn Nam Bắc triều sử trát ký, Nxb Trung Hoa Thư Cục, năm 1985, trg.114-115).
[④] Trong văn thư số hiệu B.6280 thì toàn bộ phần cuối đã bị rách nát, tựa đề phần cuối của Kinh Quán Âm (1 quyển), đã được khái quát rõ trong Kim Cang Tạng Bồ tát chú thích. Văn thư số P.3904 phần đầu và cuối còn đầy đủ. Trong chú giải đầu tiên của tựa viết là Chú Quán Thế Âm kinh Tịnh Tự cho thấy nội dung và hình thức của cuốn này có sự sai khác, phần cuối của tựa viết là Chú Quán Thế Âm kinh quyển, chỗ này viết đúng là Chú Quán Thế Âm kinh nhất quyển, chữ “nhất” bị thiếu, nghĩa là trong số hiệu này chỉ có 1 quyển.
[⑤] Tôn Xương Vũ, Trung Quốc Văn Học Trung Đích Duy Ma dữ Quán Âm, có tường thuật đầy đủ, Nxb Cao Đẳng Giáo Dục, năm 1996, trg. 75-79.
[⑥] Phó Lượng Đẳng, Quán Thế Âm Ứng Nghiệm Ký, (Tôn Xương Vũ hiệu đính), Nxb Trung Hoa Thư Cục, năm 1994, trg.26.
Nguồn Tin: Trang Đại bi
Danh sách tin tức
MENU SẢN PHẨM
SẢN PHẨM ĐẶC BIỆT
Kinh Luân quay tay
1,199,000 đ
1,500,000 đ
KINH LUÂN XOAY
KHẮC: OM MANI PADME HUM
PHONG CÁCH: PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
NẶNG: 150G
CHẤT LIỆU: HỢP KIM KẼM
QUI TRÌNH SX: BÁN THỦ CÔNG
CHỨC NĂNG: HÀNH TRÌ, MAY MẮN, TĂNG TÀI VẬN.
Mặt dây chuyền bò cạp
1,399,000 đ
1,999,000 đ
Phong cách: Phật giáo Tây Tạng
Khắc: OM MANI PADME HUM
Kiểu dáng: Cổ điển
Chất liệu: Bạc
Nhẫn khắc Om Mani Padme Hum và hoa văn nổi
1,399,000 đ
1,999,000 đ
Nhẫn khắc Om Mani Padme Hum và hoa văn nổi OMN960
Om Mani Padme Hum là một câu thần chú tiếng Phạn, được xem là thần chú cầu Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara) và là thần chú quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng, Nếu ai đeo chú này trên thân, hoặc cột vào tay, có sức mạnh hàng phục yêu ma, hóa giải diệt trừ mọi tai nạn đem lại sự an lành và may mắn cho bạn.
Mặt dây chuyền khắc liên hoa, Phật thủ và Bát Nhã Tâm Kinh
1,999,000 đ
3,999,000 đ
Mặt dây chuyền khắc liên hoa, Phật thủ và Bát Nhã Tâm Kinh OMN841
Mặt trước khắc hình tay Phật cầm liên hoa, mặt sau khắc bát nhã tâm kinh và biểu tượng hình dơi ngậm tiền. Mang lại thịnh vượng, an lạc cho người đeo.
Bộ chuông tác động 7 luân xa Nepal
6,999,000 đ
8,990,000 đ
Bộ chuông tác động 7 luân xa Nepal OMN1177
Bộ 7 chuông bằng đồng tạo ra những tần sóng âm thanh khác nhau, tác động lên 7 luân xa, giúp mang lại sự thoái mái về cả thể các lẫn tinh thần ! Bộ 7 chuông thiết kế đựng trong 1 hộp cực kỳ gọn gàng !
Mặt dây chuyền kinh luân khắc Om Mani và Bát Cát Tường
1,599,000 đ
2,999,000 đ
Mặt dây chuyền kinh luân khắc Om Mani và Bát Cát Tường OMN862
Mặt dây chuyền như chiếc kinh luân quay tay nhí. Có thể để kinh chú bên trong, sử dụng đeo trên người và có thể dùng để trì chú hàng ngày như một chiếc kinh luân quay tay bình thường. Mặt dây chuyền kinh luân có khắc Bát Cát Tường phía trên và câu chú Om Mani Padme Hum xung quanh để khi trì chú thì tác lực manh hơn. Thật là món quà vô giá..
Ví da khắc tuyết sư tạng kinh
5,999,000 đ
6,999,000 đ
Ví da khắc Tuyết Sư Tạng Kinh OMN779
Được người Tạng tự thiết kế và tạo nên từ Da thật!!!!
- Họ làm từ da con vật đã mất, để lưu giữ và luôn bên cạnh mang lại nhiều điều tốt đẹp cho người sở hữu chứ không phải họ giết để làm ví nhé !!
- Vì người Tạng luôn giàu lòng yêu thương, ai cũng biết rồi !! Đừng có ai đó không hiểu bình luận buồn trên đây, em buồn lòng lắm ạ !!!!
- Bên ngoài chiếc ví là TUYẾT SƯ TẠNG KINH!!
Nhẫn bạc hình Ngài Mahakala OMN956
1,699,000 đ
1,999,000 đ
Nhẫn bạc hình Ngài Mahakala OMN956
Nhẫn khắc hình Ngài Mahakala sắc sảo một cách tuyệt vời, sáng bóng không một nét lỗi nào. Đại Hắc Thiên được gọi là Mahakala, là vị Tôn chủ hộ pháp trọng yếu. Sự truyền thừa hình tượng Ngài trong các trường phái Tây Tạng thì không đồng nhau, tánh chất và tác dụng cũng bất đồng. Tôn tượng và đặc tính của Ngài Đại Hắc Thiên có rất nhiều cách diễn tả khác nhau như: Đại Hắc Thiên hai tay chủ yếu là hộ trì cho những hành giả tu Hỷ Kim Cang. Đại Hắc Thiên bốn tay chủ yếu hộ trì cho hành giả tu Đại Thủ Ấn. Đại Hắc Thiên sáu tay chủ yếu hộ pháp cho phái Hương Ba Cát Cử và Cách Lỗ. Đại Hắc Thiên sáu tay màu trắng chủ yếu hộ pháp của phái Tát Ca Cử, trong đó Bạch Ma Ca La còn có tên là Bổn Tôn Tài Thần. Ngoài ra vị Trời nầy còn là Tài Phước Thần, Ty Ẩm Thực.
Bát Đại Cát Tường Thù Thắng Cúng Phật OMN1173
16,999,000 đ
19,999,000 đ
Bát Đại Cát Tường Thù Thắng cúng Phật
OMN 1173
Chất liệu: Đồng
+ Kích thước: cao 22cm, rộng 8cm, nặng 730g (kích thước của 1 cái ạ) !
Ống đựng nhang khắc Om Mani, hình Phật và rồng OMN1178
699,000 đ
899,000 đ
Khắc các hoa văn : - Thần chú Om Mani Padme Hum - Hình Phật - Hình Rồng Mỗi họa tiết Nghệ Nhân Thiết Kế khắc lên đều có ý nghĩa thiêng liêng cao quý
.png)
.jpg)


